Tơ lụa Tân Châu – Lụa Lãnh Mỹ A

Tân Châu, dẫu xa về đường đi, lại rất gần trong tâm hồn những người yêu lụa. Thị xã nhỏ nằm bên thượng nguồn sông Tiền, cách trung tâm An Giang hơn 70km, từ hơn trăm năm nay vẫn được giới tinh hoa trân trọng gọi bằng danh xưng “đệ nhất xứ lụa” của vùng đồng bằng sông Cửu Long.


Làng nghề tơ lụa truyền thống Tân Châu hình thành hơn một thế kỷ trước, nổi tiếng qua bao đời với Lãnh Mỹ A – thức lụa quý tộc có sắc đen huyền bí, mềm mượt và sang trọng, góp phần làm nên danh tiếng xứ tằm tang Tân Châu.

Lecia chế tác váy cưới từ lụa Tân Châu


“Trai nào thanh bằng trai sông Của 

Gái nào thảo bằng gái Tân Châu 

Tháng ngày dệt lụa trồng dâu 

Thờ cha, nuôi mẹ quản đâu nhọc nhằn”


Đến Long Châu – trung tâm của làng nghề tơ lụa truyền thống Tân Châu – chỉ cần nhắc đến Lãnh Mỹ A, loại lụa đen hảo hạng gần như chỉ nơi đây mới làm nên, người dân đã ánh lên niềm tự hào.


Từ thời Pháp thuộc, vùng đất Tân Châu với thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp đã phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Chính nơi đây đã tạo nên Lãnh Mỹ A nổi tiếng: lụa được dệt từ tơ tằm hảo hạng, nhuộm đi nhuộm lại bằng nhựa trái mặc nưa trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Thành phẩm là một mặt lụa trơn láng, đen sâu, mặc vào mát rượi mùa hè, ấm áp mùa đông; càng dùng, càng giặt, sắc đen càng bóng đẹp.


Vì nguyên liệu quý và quá trình chế tác vô cùng kỳ công, ngày trước Lãnh Mỹ A thường chỉ dành cho giới thượng lưu trong những dịp trang trọng như lễ Tết, cưới hỏi, tiệc tùng. Tấm lãnh được gìn giữ trong nhà như một bảo vật. Có thời kỳ, lụa Tân Châu còn xuất hiện tại Ấn Độ, Singapore, Philippines và được tầng lớp quý tộc, thượng lưu ưa chuộng.


Những năm 1936–1940, Tân Châu từng là trung tâm tơ lụa lớn nhất Nam Bộ. Dọc bờ sông Tiền, sông Hậu là những vườn dâu xanh ngút mắt; trong xóm là tiếng thoi đưa, tiếng đạp khung vang từ sớm đến khuya; khắp sân nhà, ven đường, sau đồng là những tấm Lãnh Mỹ A phơi dài, đen óng trong nắng.


Nhưng trước sự cạnh tranh của vải sợi tổng hợp giá rẻ, từ sau năm 1945, thị trường lụa Tân Châu dần thu hẹp. Nhiều gia đình chuyển sang dệt nylon, vườn dâu bị phá bỏ, cây mặc nưa bị đốn đi. Có thời điểm, nghề dệt truyền thống gần như chỉ còn được duy trì bởi gia đình ông Nguyễn Văn Long, thường gọi là ông Tám Lăng.


“Nữ hoàng tơ lụa”

Từ lúc nuôi tằm đến khi “tằm ăn lên” là cả một quá trình chăm sóc tỉ mỉ. Khi tằm chín, kết thành những kén vàng ươm, người thợ mới đưa lên “bủa” để giăng tơ. Sau khi ươm, tơ thô được se thành sợi rồi dệt thành lụa. Lãnh Mỹ A được dệt theo phương pháp satin 8 – một trong những kỹ thuật khó nhất của dệt tơ tằm. Người thợ phải có đôi mắt tinh tường, đôi tay khéo léo để mặt lụa đều, mịn, đẹp như được dệt từ một sợi tơ duy nhất.

“Từ dệt ra tấm tơ đến thành một khúc vải là cả một quá trình rất công phu. Có một loại trái gọi là mặc nưa dùng để nhuộm vải. Phải nhuộm, phơi nắng nhiều lần; nắng tốt thì vải mới chắc và bền”, anh Lê Trung Hiếu – Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại đầu tư An Giang, người con của vùng đất Tân Châu – chia sẻ.

Lãnh Mỹ A có khả năng điều hòa thân nhiệt: mùa nóng mặc mát, mùa lạnh mặc ấm. Chất lụa dai bền, ít hút nước; một mặt bóng, một mặt mờ; bề mặt mịn màng, mềm mượt, càng dùng lâu càng trở nên óng ả. Bởi vẻ sâu thẳm của sắc đen và hiệu ứng bề mặt vừa như da, như giấy, như lụa, Lãnh Mỹ A còn được ví như “lụa sơn mài”.


Kỹ nghệ nhuộm của ông Tám Lăng

Lụa sau khi dệt xong sẽ được nhuộm bằng trái mặc nưa. Thuở trước, người Tân Châu từng nhuộm lãnh bằng vỏ cây già rồi đạp bùn, nhưng màu đen không bền. Ông Tám Lăng nghe nói ở Campuchia có trái mặc nưa chuyên dùng làm màu nhuộm, bèn vượt biên giới mang về cho các nhà dệt trong vùng. Nhựa mặc nưa được dùng để nhuộm, xả, phơi, rồi lại nhuộm, lặp đi lặp lại cho đến khi mặt lụa thấm đủ sắc đen.

“Mặc nưa quyết định vẻ đẹp của màu. Lãnh Mỹ A đặc biệt ở chỗ tơ tằm hợp với mặc nưa. Nếu nhuộm trái mặc nưa với loại vải khác thì không đẹp, nhưng với tơ tằm thì rất đẹp. Càng mặc, càng giặt, càng dùng lâu lại càng bóng, không phai màu, không nhăn nhúm.”


Quá trình nhuộm Lãnh Mỹ A có thể kéo dài 45–60 ngày tùy thời tiết. Lụa được nhuộm từ khi mặt trời chưa lên để kịp phơi dưới nắng sớm, sau đó giặt xả dưới sông, phơi, nhuộm lại nhiều lần. Vải khô được quấn thành cuộn tròn rồi đem nện để tăng độ bóng, độ bền và độ mềm. Trung bình, một tấm lụa phải trải qua hàng chục, thậm chí hơn một trăm lượt nhuộm, giặt, phơi, đập mới đạt sắc đen huyền óng mượt.

 

Anh Nguyễn Hữu Trí, nghệ nhân tiếp nối nghề Lãnh Mỹ A ở Tân Châu, chia sẻ: “Nhuộm khoảng 10–12 ngày thì đập xả để đập da thứ nhất. Sau đó tiếp tục xả rồi nhuộm lại theo quy trình ban đầu để lên da thứ hai, da thứ ba. Đến da thứ sáu gọi là đập da màu; sau công đoạn đó mới hoàn thiện.” Chính sự lặp đi lặp lại đầy nhẫn nại ấy làm nên chiều sâu, độ bền và linh hồn của tấm lãnh.


Người ta nói giá trị của một món đồ đôi khi không nằm ở vật chất, mà ở sự kỳ công của người làm ra nó. Với Lãnh Mỹ A, điều ấy càng đúng. Một xấp vải đen tuyền, bóng mịn, chạm vào mát lạnh, mềm như nước – là kết tinh của thời gian, thiên nhiên và đôi tay người thợ.


Từ ông tằm Tân Châu đến Bảo Lộc

Năm 1990, Rose Morant – nghệ sĩ đương đại, nhà thiết kế của một thương hiệu thời trang xa xỉ Pháp – tìm đến xưởng dệt của ông Tám Lăng để hỏi về Lãnh Mỹ A. Bà khuyến khích ông quay lại dệt lãnh bằng tơ tằm, nhuộm màu từ thiên nhiên, làm hoàn toàn thủ công. Từ cuộc gặp ấy, hành trình hồi sinh Lãnh Mỹ A bước sang một chương mới.


Rose Morant đặt ra những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng, gần như không cho phép lỗi trên từng mét lụa. Một vệt tơ hằn rất nhỏ, một mối nối không khéo, một khoảnh khắc dừng thoi quá lâu cũng có thể bị xem là lỗi. Chính yêu cầu ấy buộc người thợ phải nâng nghề đến mức tinh xảo: từ chọn tơ, se sợi, mắc cửi, canh mặt vải, nhuộm, giặt, đập, phơi cho đến là phẳng.


Về sau, nguồn tơ được chọn từ Bảo Lộc, Lâm Đồng – nơi khí hậu mát ẩm, thích hợp cho tằm cho sợi tơ dài, mịn, trắng ngà. Tơ về đến xưởng được se lại, dệt thành lụa rồi luộc để loại bỏ keo tằm trước khi nhuộm bằng nhựa mặc nưa. Để nhuộm được khoảng 20m lụa, cần đến rất nhiều trái mặc nưa tươi, xay nhuyễn lấy nhựa.


Mỗi “da” màu là một chu kỳ nhuộm, giặt, xả, phơi, đập. Những da đầu giúp sợi tơ ngấm nhựa mặc nưa, tạo độ đằm và bền; những da sau chỉnh sắc đen, làm bóng mặt vải và đem lại cảm giác mềm mại trên da. Có khi thời tiết xấu, riêng một da màu đã phải nhuộm hơn 50 lần. Để hoàn thành một miếng Lãnh Mỹ A đạt chuẩn, người thợ có thể mất đến bốn tháng.


Năm 1991, những mét lãnh đầu tiên theo tiêu chuẩn của Rose ra đời. Dù chưa hoàn hảo, bà vẫn thu mua và tiếp tục đồng hành cùng gia đình ông Tám Lăng để hoàn thiện kỹ thuật. Từ năm 1995, Lãnh Mỹ A đã đạt chất lượng để trở thành chất liệu cho nhiều thương hiệu thời trang xa xỉ trên thế giới. Sau này, hành trình bảo tồn tinh hoa thủ công ấy được tiếp nối bởi Hanoia – nhà chế tác sơn mài cao cấp của Việt Nam.


Ông Tám Lăng nay đã lui về nghỉ ngơi, trao lại xưởng dệt cho con trai. Anh Nguyễn Hữu Trí trở thành người tiếp nối, vừa giữ nghề, vừa lo cho tương lai của cây mặc nưa và Lãnh Mỹ A. Bởi nếu người trồng không bán được trái, họ sẽ chặt bỏ mặc nưa để trồng loại cây khác có lợi hơn. Khi ấy, một phần linh hồn của Lãnh Mỹ A cũng đứng trước nguy cơ mai một.


Thị trường trong nước không dễ dàng với Lãnh Mỹ A. Chất liệu này kén người mặc, kén người may, đòi hỏi may tay hoặc máy tốc độ rất chậm, dùng kim tròn để không làm xé thớ lụa. Lại chỉ có sắc đen đặc trưng, cần sự trân trọng và am hiểu nhất định để cảm nhận vẻ đẹp lặng sâu của nó.


Tìm màu cho tơ lụa Tân Châu

Không dừng lại ở màu đen huyền của mặc nưa, anh Nguyễn Hữu Trí còn mang trong mình một giấc mơ: tìm thêm những sắc màu mới cho lụa Tân Châu, nhưng vẫn phải hoàn toàn từ thiên nhiên. Từ năm 1997, anh bắt đầu thử nghiệm màu từ đất đá, vỏ cây, lá, củ, thân rễ, lõi gỗ… với vô số lần thất bại.


Anh từng rong ruổi đến các làng dệt thổ cẩm của người Khmer ở An Giang, Campuchia, rồi lên Tây Nguyên học bí quyết nhuộm màu. Mỗi khi tìm được một loại rễ, lá hay vỏ cây có thể làm thuốc nhuộm, anh lại mang về thử trên lụa. Nhưng lụa Tân Châu khác với thổ cẩm, nhiều màu lên được rồi lại không bám, không bền, hoặc làm yếu kết cấu vải.

Đến năm 2003, đúng dịp sinh nhật 30 tuổi, giấc mơ ấy bắt đầu thành hình. Anh Trí cho ra đời mẻ lụa màu hổ phách, rồi tiếp tục với màu cánh sen, ca cao, xám, đất, chàm, đỏ bordeaux. Dẫu vậy, với anh, thách thức lớn nhất vẫn là tìm được một màu tự nhiên có thể bền đẹp, bám sâu và nâng đỡ cấu trúc vải như mặc nưa.